Đọc sách

NHẤT THỂ VÀ PHÂN TÁCH – Louise J. Kaplan

Mẹ đưa con ra chào cuộc sống, con giúp mẹ học hiểu cuộc đời.

Louise J. Kaplan (18/11/1929 – 09/01/2012) là nhà Phân tâm học người Hoa Kỳ, chuyên về phân tâm học trẻ em và phát triển thời kỳ đầu đời. Cuốn sách “Nhất thể và Phân tách” được ra đời năm 1978 là một công trình có giá trị viết về sự phát triển tâm lý và hình thành nhân cách của trẻ trong những năm tháng đầu đời, kể từ sơ sinh cho đến tuổi trưởng thành.

Từ khi em bé ra khỏi bụng mẹ, một hành trình mới đã bắt đầu. Người mẹ như một người dẫn đường, giúp em bé khám phá thế giới. Em bé cũng giúp mẹ học được rất nhiều điều trên hành trình làm mẹ.

Với góc nhìn sâu sắc và sự quan sát tỉ mỉ, Kaplan mô tả lại giai đoạn ba năm đầu đời qua những chặng nhỏ một cách chi tiết, dựa trên vô số nghiên cứu từ các nhà phân tâm học nổi tiếng bao gồm Piaget, Winnicott và chủ yếu là Margaret Mahler.

Bằng những ví dụ cụ thể, Kaplan tập trung vào vai trò người mẹ rất nhiều và đôi khi có sự xuất hiện của người cha. Những va chạm tiếp xúc dù là nhỏ nhất cũng được tác giả mô tả chi tiết, giúp người đọc hiểu được cách em bé làm quen với thế giới thông qua sự hỗ trợ của người mẹ và gia đình; cho ta hiểu rõ về sợi dây liên kết của tình mẫu tử. Những tương tác qua lại giữa mẹ và em bé hình thành nên những “cảm thức về nhất thể giữa trẻ với mẹ – và cảm thức về sự phân tách dần khỏi mẹ” (Dịch giả Nguyễn Bảo Trung).

Cuốn sách đưa người đọc trở về những thời gian đã bị lãng quên, ngay từ khi lọt lòng mẹ chưa thể cất lên thành lời hay có thể ghi nhớ được kí ức. Người đọc sẽ tìm thấy được rất nhiều ý tưởng thú vị về sự phát triển tâm lý của trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi. Những suy nghĩ và cảm nhận, những ý nghĩa đằng sau các hành vi phổ biến ở thời thơ ấu như nụ cười đầu tiên, những vươn với ra bên ngoài, trò chơi ú oà, tìm kiếm, những xả các kích thích… đều được lý giải một cách rõ ràng.

Hiểu được tất cả những điều đó, những người làm cha mẹ sẽ có cách giao tiếp và hướng dẫn em bé của mình một cách đúng đắn và có cơ sở hơn. Đồng thời cũng là dịp để chúng ta nhìn lại quá trình của chính mình đã được nuôi dạy và lớn lên như thế nào. Sự phát triển của một đứa trẻ cho ta thấy tầm quan trọng của việc giáo dục trong gia đình – ngôi trường đầu tiên của trẻ. Ngược lại, chính lối sống, tư tưởng, nền văn hoá và giáo dục, bối cảnh xã hội… cũng ảnh hưởng đến cách nuôi dạy để từ đó góp phần tạo ra con người chúng ta hiện nay.

Với văn phong có phần bay bổng, cuốn sách giúp người đọc không chuyên tiếp cận được các kiến thức về phân tâm học trẻ em một cách dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, phần chú thích tỉ mỉ và cẩn thận của dịch giả sẽ giúp người đọc mở rộng thêm kiến thức về tâm lý học ngoài phạm vi cuốn sách.

Một vài trích đoạn hay trong cuốn sách:

1.

Niềm hy vọng chính là nhịp tim của mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ. Mỗi lần trẻ vượt qua được một thử thách trong đời, sự chiến thắng đó lại khích lệ sự trưởng thành mới trong cha mẹ trẻ. Theo nghĩa này trẻ em là người tạo sinh ra cha mẹ mình.

    Một người mẹ không thấy xấu hổ hay sợ hãi những thứ trẻ con thì qua những đấu tranh vật lộn ở con mình để phân tách hình thành cái tôi, người ấy có thể thấy được chính những điều chỉnh hoà giải vẫn đang diễn ra trong mình, những ham muốn được nhất thể, và hành trình vẫn đang tìm kiếm tính tôi của mình. Thật dễ để một bà mẹ thấy trần trề hy vọng khi con mình ngoan ngoãn thuận theo lúc mẹ cho bú, lúc mẹ ôm ấp cưng nựng, khuyên răn dạy dỗ, cấm đoán hạn chế và đánh giá nhận xét.

    Tuy nhiên thật khó mà cảm thấy niềm hy vọng mỗi khi trẻ chống đối không vâng lời. Chỉ có đứa con trong mộng mới đáp ứng được mọi mong ước kì vọng của cha mẹ mà thôi. Một đứa trẻ đời thực không phải lúc nào cũng ngoan ngoãn thuận lời cha mẹ. Không phải lúc nào trẻ cũng thoả mãn những hy vọng hay mong ước của cha mẹ. Một đứa trẻ đời thực thách thức mẹ mình sẽ làm cho người mẹ nhớ lại rằng mình cũng đã từng chống đối lại cha mẹ, đã từng quay đi không nghe lời cha mẹ.

    Nếu một người mẹ có thể nhìn nhận đúng đắn về ý nghĩa của những hành vi thách thức này, thì cô cũng sẽ không có xu hướng đánh đồng những thứ nổi loạn ấy ở con với những thứ cô khinh thường chối bỏ ở chính mình. Cô sẽ không còn cảm thấy tuyệt vọng chán chường nữa mỗi khi con mình không nghe lời khuyên bảo của mẹ, hay sống thuận theo những kì vọng của mẹ, khi chúng gạt đi những hành vi chăm sóc yêu thương của mẹ và sống theo ý mình.”

    2.

    Ú OÀ

    Trong phiên bản trò ú oà của riêng mình, bé bị dính mắc trong băn khoăn rằng thế giới sẽ đáp trả lại với sự biến mất và xuất hiện trở lại của bé như thế nào. Bé không ngưng nghỉ. Bé không thoả mãn khi chỉ là một người quan sát thụ động những hành vi biến mất đầy thích thú của ai đó. Bé trùm tấm chăn an toàn lên che đầu mình. Mẹ bé sẽ băn khoăn tự hỏi như rất quan tâm, “Ô bé đâu rồi nhỉ?”. Vẫn không thấy bé đâu. “Bé có thể ở đâu được nhỉ?” “Em bé đâu mất rồi?”. Bé vẫn chưa được tìm thấy. Em bé mười mấy tháng tuổi có ý niệm bạo dạn hơn mẹ rất nhiều về trò ú oà. Khi còn là em bé trong lòng mẹ, mẹ xuất hiện kèm theo câu nói “Thấy con rồi nhé” sẽ đem lại sự nhẹ nhõm nhanh chóng cho những căng thẳng kích động của bé. Giờ đây khi là người làm chủ trò, bé sẽ kéo dài sự căng thẳng. Sau cùng bé cũng kéo tấm chăn xuống khỏi mặt, ré lên thích thú khi thấy sự nhẹ nhõm trên khuôn mặt mẹ. “Oh bé đây rồi!”

    3.

    Thực tế thì trẻ chập chững không luôn ở trạng thái tinh thần cao hứng và hân hoan. Rất thường khi sự đối thoại của bé với các dạng thức bên ngoài bị gián đoạn. Bé quên việc chinh phục thế giới của thời gian và không gian, chuyển sự chú ý vào trong. Sự gián đoạn như thế của sự tham dự chủ động vào thế giới thực tại thường xuất hiện khi bé nhận ra mẹ không còn ở đó nữa.

    Khi bé nhận ra rằng mẹ đã đi mất hoặc nhận ra rằng mẹ vừa khoác áo chuẩn bị đi, bé có thể sẽ chống đối tức giận hoặc khóc đau khổ như thể muốn ngăn không cho mẹ đi hoặc muốn ép mẹ phải trở lại. Ngay khi bé chịu thua buộc phải nhận ra rằng mẹ đã đi và không trở lại nữa, bé sẽ bình tâm lại và ngừng chống đối. Nhất thời bé có thể sẽ tìm trò để chơi cho khuây khoả với những đồ chơi ưa thích hoặc nhảy nhót trên đi văng, hoặc đu đưa trên con ngựa đu, hoặc ôm cuốn sách mà mẹ đã đọc cho bé trước lúc rời đi. Nhưng nếu vắng đi sự hiện diện kề bên của mẹ, những diện mạo bên ngoài của thế giới mất đi sự lôi cuốn hấp dẫn. Chỉ vài phút sau bé sẽ từ bỏ nỗ lực khôi phục lại trạng thái hồ hởi an lạc bằng những tham dự chủ động với ngoại giới. Bé hạ buồm. Cơ thể vốn quen phấn khích của bé sẽ ỉu xìu xuống trạng thái im lặng bất động. Ánh mắt lanh lợi sẽ lờ đờ uể oải, như thế bé đang chuyển dần từ sự thất vọng về thế giới cảm giác vào sự đối thoại với thế giới nội tâm bên trong.

    Vào những khoảnh khắc này ta thấy rõ rằng sự hiện diện của mẹ là rất quan trọng với tâm trạng hân hoan của em bé tuổi chập chững.

    4.

    Khi em bé lần đầu bắt đầu phân tích và chinh phục thế giới của không gian và thời gian mang tính trực tiếp, những lần biến mất trong thực tế của mẹ làm bé tràn ngập những đau khổ không tên. Phân tách khỏi mẹ có nghĩa là mất đi sự đối thoại khiến cho các năng lượng và kích thích kích động của bé trở nên có nghĩa; nó có nghĩa là bé bị gửi nhớ về trạng thái trống rỗng và phân rã; đôi khi nó cũng nhắc bé về trạng thái bất lực của mình. Nhưng sau đó trẻ có thể dùng cách an ủi trong những ảo tưởng và trong những dạng tâm trạng trì hãm của mình. Và mặc dù mẹ là yếu tố gợi nhắc về những mâu thuẫn giữa tính nhất thể và phân tách, nhưng khi mẹ xuất hiện trở lại, sự hiện diện thực tế của mẹ trong thế giới thường đem lại cho bé sức sự mạnh dạn để tiếp tục những khám phá và chinh phục. Vào thời điểm đó tâm trí bé chưa lên đến mức nhận thức rằng mình và mẹ thực sự là những con người phân tách, với những ham muốn và tồn tại tách biệt.

    Một cô gái thong dong, thích nấu ăn cho những người thân yêu

    Leave a Reply

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *